Cẩm Ly chân trần tập hát . Thứ Sáu, ngày 18/10/2013 10:16 AM (GMT+7) Chị Tư bỏ giày, đi chân trần tập hát. Nam diễn viên Đại Nghĩa cũng có mặt và trổ tài ca hát bên Cẩm Ly. Sau thông xe, phương tiện đi lại qua hầm chui Lê Văn Lương Khái lược về Phật giáo Việt Nam thời Lý - Trần. 49. 1.3.2. Phật giáo Lý - Trần trong mối quan hệ với Phật giáo Ấn Độ, Phật giáo. Trung Quốc và tín ngưỡng dân gian bản địa. 51. 1.3.3. Phật học - Thiền học Lý - Trần với bản sắc dân tộc. 54. Chương 2: DIỆN MẠO 5. Tác phẩm của Trần Tung và Thượng sĩ hành trạng (do Trần Nhân Tông viết) trong bài viết này được trích dẫn theo Thơ văn Lý Trần, tập II, Nxb . Khoa học Xã hội, H., 1989. 6. Trần Trọng Kim, Phật giáo, Nxb. Tôn giáo, H., 2007, tr.68. 7. Tư tưởng Phật giáo Việt Nam thời Lý- Trần qua vở kịch "Rừng trúc" Khuông Việt thiền sư hay phức thể dung hội Nho- Phật Vai trò của đội ngũ tăng quan ( [1]) đối với sự phát triển của Đại Việt dưới triều Lý (1010 - 1225) Văn học thời Lý - Trần và công cuộc dựng nước, giữ nước Ngộ và hành trình trải nghiệm đời sống của thiền nhân đời Trần 48. Đặng Thai Mai - Cao Xuân Huy (chỉ đạo và duyệt) (1977), Thơ văn Lý Trần, Tập 1, Nxb Khoa Học Xã Hội. 13 49. Đặng Thai Mai - Cao Xuân Huy (chỉ đạo và duyệt) (1978), Thơ văn Lý Trần, Tập 3, Nxb Khoa Học Xã Hội. 50. Trịnh Khắc Mạnh (2008), Một số vấn đề về văn bia Việt Nam Vay Tiền Nhanh. Mọi hành vi, mọi ứng xử trong xã hội với mục đích là đem lại cuộc sống an lạc cho muôn dân. Điều đó đã thể hiện qua tinh thần nhập thế tích cực của các nhà sư và chính tinh thần đó đã thể hiện được cái đẹp Phật giáo qua những tác phẩm văn thơ Lý – Trần. >>Nghiên cứu Có thể nói tinh thần của các vị Thiền sư trong thời Lý – Trần là một hành động tích cực. Nhập thế mà không trụ thế. Hình ảnh con người có thể dung nạp được mình để hòa đồng và vui vẻ suốt ngày với thiên nhiên là hình ảnh con người mang khát vọng hòa nhập và chế ngự thiên nhiên được thể hiện qua lời thơ thoát phàm bay bổng “còn một tiếng kêu vang, lạnh cả trời”. Có thể là một tiếng reo của một người chứng ngộ, thoát khỏi cảnh giới trần thế. Cái kêu vang lạnh ấy phải chăng là tiếng kêu sảng khoái của một tâm hồn khoáng đạt với tư tưởng phá chấp triệt để và với một tinh thần thoái mái tột cùng, chứ không phải là một người suốt ngày cứ câu nệ vaò tín điều một cách cứng ngắc, khô khan. Tiếng kêu đó chính là sự trực cảm tâm linh, là trạng thái chứng ngộ của các Thiền sư. Sự nhập thế tích cực của các Thiền sư thời Lý – Trần đã đưa Phật giáo đến đỉnh cao của sự phồn vinh. Các nhà sư là những Thiền Sư đã chiếm một vị trí quan trọng trên chính trường và trên nhiều lĩnh vực khác. Nền văn học Việt Nam trong giai đoạn này là những kho tàng quý báu. Những áng văn thơ của các Thiền sư đã mở ra một cách nhìn mới mẻ, một không khí lạc quan, yêu đời. Những áng văn, thơ của các Thiền Sư đã mang đầy chất liệu sống, bởi các Ngài đã hiện hữu trong cuộc sống bằng tuệ đúc và trả về cho chính bản thân cuộc sống bằng sự từ bi. Thơ văn của các vị Thiền Sư mang chất liệu Phật hoá đã len lõi và thấm sâu vào tâm thức của đông đảo quần chúng nhân dân. Phong cách của các Ngài luôn thể hiện bằng sự ung dung, tự tại. Vì thế nên những áng văn của các Ngài rất sinh động nội dung phong phú bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau. Tự lợi Thông thường chúng ta hiểu tự lợi chỉ mang tính cách cá nhân, mang lại lợi ích cho chính bản thân mình. Tuy nhiên ý nghĩa tự lợi của các vị Thiền sư không phải dừng lại ở nghĩa hẹp như vậy, mà điều muốn nói ở đây chính là sự ngộ nhận chân lý của các Ngài. Các Ngài đã nhận chân được sự vật một cách rốt ráo, nhận rõ chân tướng sự vật bằng thể tánh tịch tịnh vắng lặng. Các nhà sư, vua chúa, thần dân lúc bấy giờ đều thấm nhuần giáo lý nhà Phật cho nên khi đối cảnh thì vẫn sanh tình, nhưng tình ở đây không phải là những tình cảm tầm thường mà là cái đẹp cái hay mang tính thoát tục. Trần Nhân Tông khi viếng cảnh Thiên Trường vào một buổi hoàng hôn đã thốt lên Thôn hậu thôn tiền đạm tợ yên Bán vô bán hữu tịch dương biên Mục đồng địch lý ngưu quy tận Bạch lộ song song phi hạ điền Dịch nghĩa Thôn trước thôn sau tựa khói hồng Bóng chiều như có lại như không Mục đồng thổi sáo trâu về hết Cò trắng từng đôi liệng xuống đồng. Thơ văn Lý Trần- Tập 2- 464 Với cái nhìn bằng đôi mắt của một bậc giác ngộ, các Thiền sư đã xem cuộc đời vốn là như huyễn, cho nên đối với sự còn mất của vạn vật trong vũ trụ cũng là thường tình. Như Ngài Huyền Quang đã xem sự nở tàn của hoa cúc khoe sắc cùng sương gió bao năm vẫn thế Vương thân vương thế dĩ đô vương Toạ cửu tiên nhiên nhất tháp lương Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật Cúc hoa khai xứ túc trùng dương Dịch nghĩa Quên mình quên hết cuộc tang thương Ngồi lặng đìu hiu mát cả giường Năm cuối trong rừng không có lịch Thấy hoa cúc nở biết trùng dương Trích Thiền Sư Việt Nam – 362- Thích Thanh Từ Và cứ như thế Ngài đã sống an lạc trong núi rừng vắng vẻlàm bạn với trăng sao và Ngài cũng đã đánh tiếng chuông cảnh tĩnh cho những ai còn đắm chìm trong trong mộng để rồi mãi chìm đắm trong sự khổ đau của cuộc đời. Đối với các Ngài phú quývinh hoa chỉ là giả danh như cây cỏ có rồi lại không Phú quý phù vân trì vị đáo Quan âm lưu thuỷ cấp tương thôi Hà như tiểu ẩn lâm tuyền hạ Nhất tháp tùng phong trà nhất bôi Dịch nghĩa Phú quý mây bay tự nẻo xa Tháng ngày nước chảy vội vàng qua Chi bằng vui thú lâm tuyền ẩn Giường cỏ thông reo một chén trà Thơ văn Lý Trần- Tập 2- 697 Cũng như bao người khác, với vẻ ung dung, với đời sống tự tại Trần Nhân Tông đã nhận thức được chân tướng các pháp, của vạn hữu vũ trụ, thấy rõ bộ mặt thật của chính mình tất cả đều không ngoài tự ngã của mình khởi sanh Đối với những người phàm phu bình thường thì sự sanh diệt luôn làm cho mình lo âu sợ hãi, cứ như thế tâm trạng khát khao lo lắng ấy cứ mãi nung nấu trong tâm trí và theo họ mãi mãi. Nhưng với các vị Thiền Sư thì không như vậy, hôm nay và ngày mai chỉ là một hiện tiền sanh khởi, con người sống hay chết đều có nguyên lý nhất định. Thiền Sư Chân Không thì cho rằng Xuân lai xuân khứ nghi xuân tận Hoa lạc, hoa khai chỉ thị xuân Dịch nghĩa Xuân đến xuân đi ngỡ xuân tàn Hoa dù nở rụng tiết xuân vẫn là Thơ văn Lý Trần- Tập 1- 697 Ngài Mãn Giác Thiền Sư cũng biến cuộc đòi thành mùa xuân vĩnh cửu, vẫn thấy xuân đến trăm hoa đua nở, xuân đi thì muôn hoa đều rụng, nhưng thể tánh của hoa vẫn không thay đổi. Hoa ở đây chỉ là cái tướng bên ngoài vì thể tánh còn nên hoa vẫn nở, mặc dù tịch diệt nhưng thể tánh chơn như vẫn còn Đừng bảo xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua sân trước một cành mai Cáo tật thị chúng- Mãn Giác Thiền Sư Thật vậy chân lý chẳng ở đâu xa mà luôn hiện hữu trong cuộc sống hiện tại, chân lý chỉ có một mà đường đi đến chân lý thì muôn vạn nẽo. Nếu biết tĩnh giác và lắng sâu thì chân lý hiển lộ như một vầng trăng sáng, hiện hữu lấp lánh trên mặt nước trong xanh yên tĩnh. Chân lý được thật sự hiển bày chỉ khi nào chúng ta nhận chân được các pháp một cách như thật. Có thể nói tư tưởng của các vị Thiền Sư trong thời Lý Trần là những tư tưởng độc đáo. Các Ngài đã tự kiềm chế mình và vượt ra ngoài lợi danh, tài sắc để hoà nhập vào cuộc sống bằng hành động mang lợi ích đến cho mọi người. Cho nên với Trần Thái Tông xem nhẹ ngai vàng chỉ như một chiếc giày cỏ có thể vứt bỏ khi nàocũng được, với Trần Nhân Tông cũng thế Cư tràn lạc đạo thả tuỳ duyên Cơ tắc sang hề khốn tắc miên Gia trung hữu bảo hưu tầm mích Đối cảnh chi tâm mạc vấn Thiền Dịch nghĩa Ở đời vui đạo mặc tuỳ duyên Hễ đói thì ăn mệt ngủ liền Trong nhà sẵn ngọc tìm đâu nữa Đối cảnh vô tâm hỏi chi thiền. Thơ văn Lý Trần- Tập 2- 504 Ngay giữa chợ đời mà tuỳ duyên đói ăn, mệt ngủ. Nguồn sống đó chính là chân lý đích thực của cuộc sống chân thặt. Phải chăng sự hiện hữu của những con người mang tính tự giác siêu việt sẽ làm cho cuộc đời tươi đẹp thêm và muôn loài được hạnh phúc hơn. Đó chính là một trong những nét đẹp của Phật giáo qua thơ văn Lý- Trần. Lợi tha Như chúng ta đã biết Đức Phật ra đời với mục đích mang đến cho nhân loại nièm an lạc , hạnh phúc .Vậy cho nên nhiệm vụ của những người con Phật là thay Phật dẫn dắt , giáo hĩa chúng sanh đạt đến cuộc sống an vui, giải thốt sau khi Ngài diệt độ. Thế cho nên hành trang của những người con Phật ở đây chính là trí tuệ và từ bi. Với trí tuệ làm sự nghiệp những người con Phật có thể lên đường đi đến bất cứ nơi nào. Các Thiền sư trong thời Lý –Trần là tiêu biểu cho những con người như vậy Chính nhờ có trí tuệ siêu việt như vậy mà các Thiền sư đã quán triệt một cách thấu đáo những lời Đức Phật dạy để áp dụng trong công việc trị nước an dân. Có thể nói rằng trong suốt mấy trăm năm trị vì đất nước cả hai triều đại này đã dùng phương pháp đức trị. Phải chăng chính phưong pháp ấy đã nói lên sự bền vững của hai triều đại Phải nói rằng nhân dân dươí hai triều đại này rất thái bình an lạc. Vơí một tâm niệm là đem lại niềm vuicho muôn dân, đặt vận mệnh đất nước lên hàng đầu, lấy ý dân làm ý chung. Chính sự xả bỏ tự ngã đó cho nên đất nước luôn sống trong cảnh giới hoà bình. Các Ngài hiểu rõ nếu lấy đúc trị dân thì sẽ giải phóng được ý tưởng phân biệt giai cấp, xoá bỏ những thành kiến và tạo được một lối sống bình đẳng trong xã hội. Nhưng không dừng lại ở việc trị nước an dân, các Thiền sư còn thể hiện sự giải thoát của mình qua những vần thơ trong sáng nhẹ nhàng tự tại. Một lần khi đưa sứ nhà Tống sang sông lúc ngồi trên thuyền Lý Giác thấy hai con ngỗng bơi liền cảm hứng ngâm Nga nga lưỡng nga nga Ngưỡng diện hướng thiên nga Dịch nghĩa Song song ngỗng một đôi Ngữa mặt ngó lên trời Lúc đó nhà Sư Đỗ Pháp Thuận làm người chèo đò liền ứng khẩu Bạch mai phô đầu thuỷ Hồng trạo bãi thanh ba Dịch nghĩa Lông trắng phơi dòng biếc Sóng xanh chân hồng bơi Thơ văn Lý Trần- Tập 1- 202 Chính sự thông thái văn chương ấy đã làm cho sứ nhà Tống thán phục, qua đó chúng ta cũng thấy rằng sự dấn thân đích thực của các nhà sư vào cuộc sống nhưng mà không bị cuộc đời ràng buộc. Trong thời đại Lý – Trần Phật giáo đã gắn liền với sự thăng trầm nhục vinh của đất nước. Sự đóng góp của Thiền sư Vạn Hạnh dưới triều Lý đã thể hiện rõ truyền thống yêu nước của Phật giáo Việt nam. Vua Lý Nhân Tông đã khẳng định Vạn Hạnh dung tam tế Chơn phù cổ sấm xưa Hương quan danh cổ pháp Trụ tích vấn vương kỳ Dịch nghĩa Thiền sư học rộng bao la Giữ mình hợp pháp sấm ra ngoài lời Quê hương Cổ pháp danh ngời Tháp bia đứng vững muôn đời Đế đô. Trích Việt Nam Phật giáo sử lược – Thích Mật Thể - 121 Cả cuộc đời bảo vệ non sông đất nước Vạn Hạnh Thiền sư đã cống hiến cho nền độc lập tự chủ của nước nhà. Tư tưởng hành đạo của Ngài là phụng sự dân tộc trong tinh thần từ bi và trí tuệ. Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố uý Thịnh suy như lộ thảo đầu phô Dịch nghĩa Thân như ánh chớp có rồi không Cây cỏ xuân tươi thu não nùng Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi Kia kìa ngọn cỏ giọt sương đông. Trích Việt Nam Phật giáo sử lược – Thích Mật Thể - 121 Cầu giải thoát cho mình nhưng các vị Thiền sư không bao giờ thờ ơ lãnh đạm với xã hội. Thiền không chỉ suốt ngày bĩ gối ngồi thiền ở chốn hang hiểm rừng sâu, mà ngay trong cuộc đời này cũng đã thể hiện được phong cách của quý Ngài. Nhưng không chỉ dừng lại ở các Thiền sư mà các vua quan hồi đó cũng đã đi vào lòng dân một cách tận tình. Lý Thánh Tông vào một năm trời rét lắm, bảo với các quan hầu cận rằng “ Trẫm ở trong cung ăn mặc như thế này mà vẫn còn rét lắm, nghĩ những tù phải giam trong ngục phải trói buộc, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, vả lại có người xét hỏi chưa xong, gian ngay chưa rõ, lỡ rét quá mà chết thì thật là thương lắm”Trích Việt Nam Phật giáo sử lược – Thích Mật Thể. Nói rồi Ngài truyền lấy chăn chiếu cho tù nhân nằm và cho ăn ngày hai buổi đầy đủ. Lại một hôm Thánh Tông ra ngự ở điện Thiện Khánh xét án, lúc đó có Động Thiên công chúa đứng hầu một bên. Ngài chỉ công chúa mà bảo với các quan rằng “Lòng trẫm yêu dân như yêu con trâm vậy, hiềm vì trăm họ ngu dại mà làm càn phải tội, trẫm lấy làm thương lắm, vậy từ nay về sau tội gì cũng giảm nhẹ bớt đi Trích Việt Nam Phật giáo sử lược – Thích Mật Thể. Như trên đã nói mọi hành vi, mọi ứng xử trong xã hội với mục đích là đem lại cuộc sống an lạc cho muôn dân. Điều đó đã thể hiện qua tinh thần nhập thế tích cực của các nhà Sư và chính tinh thần đó đã thể hiện được cái đẹp Phật giáo qua những tác phẩm văn thơ Lý – Trần. Tags nguyễn huệ chi nxb khoa học xã hội 1989 phạm tú châu thơ văn lý-trần ebook pdf trần thị băng thanh đỗ văn hỷ Thơ văn thời Lý-Trần, đã được sưu tầm, nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, từ quy mô Nhà nước, đến các công trình nhỏ lẻ của các cá nhân, ở những góc nhìn khác nhau, phạm vi tìm hiểu cũng khác nhau. Kể từ khi họ Đinh Đinh Tiên Hoàng, dẹp loạn Mười hai sứ quân, lên ngôi Hoàng đế Năm Mậu Thìn-968, kinh đô đặt tại Hoa Lư Ninh Bình, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đất nước bước vào một kỷ nguyên mới, độc lập, thống nhất. Công việc bang giao với nhà Tống được thực hiện, bắt đầu vào năm Canh Ngọ 970. Đinh Tiên Hoàng được một số danh thần như Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp…ra sức giúp rập. Cơ nghiệp dường như đang được củng cố, dần ổn định, thì bỗng dưng tai họa ập đến. Vua Đinh và Thái tử Đinh Liễn bị Đỗ Thích ám sát. Đây là một vụ án cho đến nay vẫn còn để lại nhiều chỗ đáng ngờ. Nhiều câu chuyện bí ẩn còn đó, được che lấp bởi màn sương huyền ảo mà người đương thời tạo ra một cách tinh xảo, người đời nay cứ thế mà tiếp nối cái sự mù mờ lịch sử ấy. Đã đành rằng Lê Hoàn sau khi lên cầm quyền 980, đã tỏ ra là một vị vua xứng đáng, với chiến công đánh bại quân Tống xâm lược trên sông Bạch Đằng Thơ Văn Lý-Trần Tập 2-Quyển Thượng NXB Khoa Học Xã Hội 1989 Nguyện Huệ Chi 958 Trang File PDF-SCAN Link download Zalo/Viber 0944625325 buihuuhanh Vụ Án Truyện Kiều NXB Sài Gòn 1965 - Nguyễn Văn Trung, 297 Trang27/06/2013 Những Bài Giảng Về Tác Gia Văn Học Tập 2 NXB Đại Học Quốc Gia 1999 - Nguyễn Đăng Mạnh, 283 Trang13/08/2017 13 Năm Tranh Luận Văn Học Tập 3 NXB Văn Học 1995 - Thanh Lãng, 629 Trang02/07/2017 Quốc Văn Trích Lục Quyến 1 NXB Lê Văn Phúc 1914 - Nguyễn Hòa Cát, 26 Trang12/05/2017 Sơ Kính Tân Trang NXB Đại Học Quốc Gia 2002 - Phạm Thái, 199 Trang12/10/2014 Số Phận Của Tiểu Thuyết NXB Tác Phẩm Mới 1983 - Lại Nguyên Ân, 390 Trang31/05/2017 Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18 Hết Thế Kỷ 19 NXB Giáo Dục 2009 - Nguyễn Lộc, 871 Trang30/11/2016 Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XX Quyển 1 Tập 34 NXB Văn Học 2008 - Nguyễn Cừ, 976 Trang03/05/2018 Văn Chương Tài Năng Và Phong Cách NXB Khoa Học Xã Hội 2001 - Hà Minh Đức, 573 Trang11/06/2013 Hán Dịch Kim Vân Kiều-Nam Âm Thi Tập NXB Tác Giả 1961 - Trương Cam Vũ, 333 Trang29/05/2019 Đặc Điểm Lịch Sử Văn Học Việt Nam NXB Đại Học 1987 - Lê Trí Viễn, 275 Trang11/01/2022 Tư Duy Thơ & Tư Duy Thơ Hiện Đại Việt Nam NXB Văn Học 1996 - Nguyễn Bá Thành, 382 Trang14/09/2020 Nhìn Lại Văn Học Việt Nam Thế kỷ XX NXB Chính Trị 2002 - Hà Minh Đức, 1088 Trang02/10/2020 Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18 Nửa Đầu Thế Kỷ 19 Tập 1 NXB Đại Học 1976 - Nguyễn Lộc31/05/2017 Văn Học Dân Gian-Những Công Trình Nghiên Cứu NXB Giáo Dục 2003 - Bùi Mạnh Nhị, 403 Trang27/02/2015 Last edited by a moderator Feb 3, 2021 Share This Page Forums Forums Members Members Menu Thông tin sản phẩm Khách hàng nhận xét Thơ Văn Lý Trần – Viện Văn Học 3 Tập Toàn tập khối lượng thơ văn Lý-Trần trình bày trong bộ sách này chia làm 3 tập, sắp xếp theo thời gian lịch sử Tập I từ Ngô Quyền dựng nước 938 đến hết nhà Lý 1225. Tập II từ mở đầu nhà Trần 1225 cho đến đầu đời Trần Dụ Tông 1341. Tập III từ khoảng 1341 đến khởi nghĩa chống Minh của Bình Định Vương 1418 Thơ văn Lý-Trần là một di sản văn học thành văn tương đối cổ hơn cả còn lưu lại được trong lịch sử nền văn học độc lập, tự chủ của dân tộc ta. Nhưng vì từ bấy đến nay đã trải qua gần sáu trăm năm lịch sử – lại là sáu trăm năm đầy những biến thiên dữ dội – cho nên bộ mặt của nó chắc chắn từng bị sứt mẻ và biến dạng rất nhiều; ngay những phần hiện ít có vấn đề nhất cũng chưa thể nói là còn nguyên vẹn. Khôi phục cho được cái đường nét, cái hình dáng đích thực của những tài liệu còn lại đó cũng như làm sống lại những tài liệu tưởng chừng đã mất, là việc cần thiết phải làm, song cũng là việc vô cùng khó khăn phức tạp. Mặt khác, do chỗ thời đại Lý-Trần là một thời kỳ đấu tranh giữa nhiều trào lưu tư tưởng, nhất là giữa ba luồng tư tưởng Phật, Nho và Lão, nên thơ văn của thời đại này cũng có những bộ phận không thoát khỏi mang màu sắc của các hệ thống triết học tôn giáo khá đậm. Những điển cố, những sự tích về Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo được trình bày nhiều khi xen lẫn trong không ít sáng tác thời này cũng là một trở ngại rất lớn cho người dịch. Với hai khó khăn cơ bản như thế, lại thêm khả năng có hạn của các dịch giả, bản dịch Thơ văn Lý-Trần ra mắt bạn đọc lần này chắc chắn không tránh khỏi rất nhiều sai sót. Mạnh dạn cho công bố sớm bộ sách, chúng tôi chỉ muốn xem đây là một thể nghiệm bước đầu, nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu của bạn đọc đối với việc tìm hiểu nền văn học Lý-Trần ngày càng cao, và cũng nhằm thông qua bạn đọc mà bổ sung, sửa chữa một cách có hiệu lực hơn, để những lần tái bản sau thêm phần hoàn chỉnh. Thơ Văn Lý Trần – Viện Văn Học 3 Tập Tác giả Thích Nữ Quảng Hiếu Ni viện Diệu Nhân, Phú An, Phú Hội, Đức Trọng, Lâm ĐồngA. Dẫn nhập“Nhạn quá trường không Ảnh trầm hàn thủy Nhạn vô di tích chi ý Thủy vô lưu ảnh chi tâm”Dẫu biết rằng thời gian và không gian là vô tận, Phật ý vô ngôn đã hàm dung tất cả nhưng thể tính vô tướng kia lại ảo diệu khôn cùng. Ngược dòng thời gian, tìm về nền văn hiến bốn ngàn năm của dân tộc với những trang sử bi tráng, mang đậm bản sắc văn hóa Á Đông. Trong mạch nguồn đó, Phật giáo có vai trò huyết mạch luân lưu, đặc biệt là Phật giáo giai đoạn triều đại Lý – bậc đống lương của dân tộc, đã viết nên những vầng thơ tạo nên một kho tàng thơ thiền triều đại Lý – Trần lấy hình tượng con người là trung tâm. Thời đại này đã để lại cho nền văn học nước ta nhiều tác phẩm thơ thiền bất hủ, những áng thi ca diễm lệ, đậm chất nhân văn, thanh thoát có sức sống vượt thời Nội dungNhắc đến thiền học ta không thể không nhắc đến Sơ tổ Trúc Lâm Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông, người đã đem lại làn gió mới cho nền tư tưởng văn học Việt Nam, người đã khai sáng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử, một dòng thiền mang đậm bản sắc dân tộc Đại sử Phật giáo hơn hai ngàn năm đã có rất nhiều vị thiền sư góp phần cho kho tàng văn học thơ thiền trong giai đoạn triều đại Lý – Trần, thể hiện trọn vẹn tinh thần vì đạo, vì dân. Chư vị thiền sư xuất hiện dưới nhiều tướng trạng khác nhau như thái sư Khuông Việt, người lái đò Đỗ Thuận, lương y Tuệ Tĩnh, quốc sư Vạn Hạnh..vv. Đối với quý Ngài dù ở cương vị nào, ở hình thức nào chẳng qua chỉ là lớp áo đổi thay không dừng trong các vai trên sân khấu cuộc đời. Vì vậy, tất cả chư vị Thiền sư đi vào đời mà không bị dòng đời xoay chuyển, tâm hồn các Ngài thanh thoát như hoa sen giữa bùn lầy mà không bị ô nhiễm, chính điều đó đã thể hiện trọn vẹn tinh thần vô ngã, tùy duyên bất biến giữa dòng đời vạn tưởng thiền học trong Phật giáo góp phần hình thành nên hình tượng nhân vật trong những vầng thơ đậm tinh thần vô ngã, vị tha, bình dị, thiết thực. Những vầng thơ đi tìm chân lý, hạnh phúc ngay trong cuộc sống thực tại. Người ta thường nói Thiền học chính là tâm học. Thật vậy, phương pháp tu tập Thiền học đưa ta đến con đường cảm ngộ trực tính tâm linh, bởi lẽ một khi tâm rỗng không mới có thể kiến đạo, từ đó giác ngộ giáo lý nhiệm mầu của Như Lai, bản chất các pháp được bừng tỏ bởi vầng nhật nguyệt. Tinh thần vô thường, vô ngã được thể hiện rõ“Bát nhã vốn chân không Nhân không ngã diệc không Quá hiện vị lai Phật Pháp tính bản lai đồng” Lý Thái TôngVô thường là một quy luật của tự nhiên, dẫu muốn hay không hành giả cũng phải luôn đón nhận chúng, hành giả tu tập nhận rõ bản lai diện mục, hiểu rõ vô thường sẽ không còn khổ lụy, đau thương khi nghịch cảnh ập đến bản thân, gia đình cũng như những người thân yêu xung quanh chúng ta. Cuộc đời con người ai rồi cũng trải qua nhiều cung bậc cảm xúc bởi sự hơn thua, được mất, vinh nhục, tốt xấu, thành nổi bật trong thơ Thiền Phật giáo Lý – Trần ấy chính là những vầng thơ đậm tinh thần tùy duyên bất biến. Kiếp người chỉ là tạm bợ, cát bụi vô thường, vì vậy hãy sống an nhiên tự tại giữa dòng đời vạn biến, đừng để mọi hư danh chi phối tâm hồn bậc xuất sĩ“Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhãn tiền quá Lão tòng đầu thượng lai Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận Đình tiền tạc dạ hất chi mai” Thiền sư Mãn GiácKiếp người mong manh, hình ảnh cành hoa mai hồi sinh sau đông tàn để nảy lộc, trổ hoa ấy cũng chính là tâm hồn con người hồi sinh sau đêm đông lạnh giá để đón ánh bình minh, hướng đến cuộc sống tốt đẹp. Giữa thế gian vạn ảo, chiếc lá vàng khô khẽ rơi, tâm hồn hành giả như chợt nhiên giác ngộ, trở về bản tính chân như. Thế mới nói, thơ Thiền có thể chấp cánh ước mơ cho con người hướng đến đích tối thượng của giác ngộ là Niết Bàn giải tinh thần vô ngã, vị tha vạn pháp duyên sinh vượt qua mọi pháp thế gian, đập tan mọi ranh giới, giữa thực và hư vô, bởi lẽ mọi chúng sinh đều có Phật tính và đều có khả năng thành tựu đạo quả vô thượng bồ đề. Tấm thân tứ đại này là giả tạm được vay mượn từ đất nước gió lửa, một khi hơi thở mất đi tất cả sẽ trở về với lòng đất mẹ”“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô Nhậm vận thịnh suy vô bố úy Thịnh suy như lộ thảo đầu phô”[1] Thiền sư Vạn HạnhTinh thần vô ngã được thể hiện qua nhiều bài thơ thiền thời kỳ này. Con người sinh ra, sống và tồn tại trong một tổng thể tương quan bởi vạn pháp duyên sinh. Vì vậy, ta phải có cái nhìn thật sáng suốt về bản chất của vạn vật, đặt mình vào thế giới thực tại mới có thể cảm nhận một cách sâu sắc sự nhiệm mầu của thế giới vi diệu này. Tư tưởng thiền tông trong thơ thiền dẫn hành giả đến sự phá chấp theo giáo lý nhà Phật. Điều này được thể hiện qua bài thơ của Ni sư Diệu Nhân“Sinh lão bệnh tử Tự cổ thường nhiên Dục cầu xuất ly Giải trọc thêm phiền Mê chi cầu Phật Hoặc chi cầu thiền Thiền, Phật bất cầu Uổng khẩu vô nhiên”Người tu thiền an nhiên tự tại giữa mọi hoàn cảnh. Bởi lẽ Phật pháp bất ly thế gian pháp, ngay trong nghịch cảnh, mọi chướng duyên con người vẫn có thể tu tập giác ngộ đạo ấy chính là Thiền. Bên cạnh đó, thơ Thiền thời Lý – Trần còn thể hiện tính khai phóng, phá tan mọi khuôn phép, sự rập khuôn mở ra lối tư duy mới hướng đến giác ngộ, con người tồn tại bởi do nhiều nhân duyên hòa hợp của trùng trùng duyên khởi“Mấy ai thành Phật ở tu hành Chỉ trói cùm thêm trí óc mình Thấu lẽ huyền vi trong ngọc sáng Là vầng dương hiện giữa trời xanh”Giá trị tâm hồn của con người chính là đức tu hướng đến giải thoát. Chân tâm thường hằng ấy như ngọc ma ni sáng soi, phá tan mọi vô minh đen tối bởi vọng trần, kiến giải hoặc phiền não. Chư vị thiền sư dấn thân vào đời, phụng sự đạo pháp, cứu độ chúng sinh nhưng vẫn không quên sứ mệnh cao cả của mình là tu tập để xuôi về Niết Bàn. Đây là tinh thần nhập thế tích cực, hòa nhập chứ không bị hòa tan như hoa sen nằm giữa bùn lầy cũng không hôi tanh mùi bùn. Vinh hoa, phú quý, địa vị, danh vọng, sắc đẹp đều như giấc mộng Nam Kha, như đám phù vân chẳng nghĩa lý gì cả đối với hành giả giải thoát giác ngộ. Bởi lẽ“Sắc tức là không Không tức là sắc” Ni Sư Diệu NhânCó thể nói xuyên suốt trong hệ thống thơ thiền Lý Trần, hình tượng con người luôn hiền thiện bởi sự tu tập giác ngộ, bởi tư tưởng tùy tục, tinh thần nhập thế tích cực, hoằng pháp lợi sinh, tùy duyên hóa độ. Bởi lẽ phụng sự chúng sinh là cúng dường chư cao văn học thời kỳ này là sự kết hợp hài hòa giữa con người thiền sư và con người thi nhân. Đó là sự cảm nhận tinh tế, sâu lắng trước thiên nhiên. Thiên nhiên không ồn ào mà trầm mặc gắn liền với những đường nét nhẹ nhàng, gắn với cảnh lặng lẽ u tịch để qua đó gửi gắm ý niệm cuộc đời với một tâm hồn đạt đạo cao thượng“Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên Bán vô bán hữu tịch dương biên’ Mục đồng định lý ngưu quy tận Bạch lộ song song phi hạ điền” Trần Nhân TôngVới bút pháp vừa thực vừa hư, vừa tĩnh vừa động, tâm thức con người dường như hòa quyện vào thời gian, không gian, vạn vật một cách vô cùng tự tại. Sương khói, bóng chiều, tiếng sáo, đồng ruộng, người và vạn vật dường như trầm lắng trước hoàng hôn thiên nhiên. Bóng chiều dường có lại dường không là nét đẹp, là sự cảm nhận tuyệt vời của tâm hồn con người, là dấu ấn thẩm mỹ khai phóng tâm thức văn học thi con người đạt đến đỉnh cao nhân văn thì con người có thể gặp lại chính mình ở mọi chỗ, mọi nơi. Bài thơ có thể nói đã đạt đến mức thi trung hữu họa được viết dưới ánh sáng của Mỹ học Thiền tông, bởi trạng thái chập chờn giữa thực và hư, giữa tính với động, giữa hữu và cạnh con người thiền sư, chúng ta còn có thể thấy bóng dáng con người bình thường, con người thi sĩ, con người với những rung cảm trước cuộc đời“Bán song đăng ảnh mãn sàng thư Lộ trích thu đình dạ khí hư Thụy khởi châm thinh vô mích xứ Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ” Trần Nhân TôngMộng và thực, thực và mộng. Với tâm hồn thanh cao, thiền sư đã đạt đến đích của sự cảm nhận. Thiên nhiên dường như đã trở thành thực tại của chủ thể bởi sự sáng tạo. Nơi đây, dường như con người ta không còn nhận ra cái tôi riêng mình, cái tôi trở nên sự thấy, nghe, biết một cách thuần khiết, trầm lắng trong cảnh sắc thiên nhiên huyền diệu. Triết lý sống kết hợp giữa đạo và đời còn được thể hiện qua bài thơ Cư trần lạc đạo“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên Cơ tắc xan hề khốn tắc miên Gia trung hữu bảo hưu tầm mích Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”[2] Trần Nhân TôngMỗi câu trong bài thơ hàm ẩn chứa triết lý hành trì của sự tu tập, nội dung phản phất thể hiện phong thái thiền gia. Tổng hợp bốn câu thơ ta có triết lý nhập thế, rất năng động và tích cực. Hai câu thơ đầu nói lên sự cần thiết của đời sống nhân sinh thường tình, đây là đời sống tục đế, của con người thế tục nơi cõi trần gian. Qua đây, đức Vua nhằm khuyên nhủ nhân dân phải có nếp sống đạo đức, tu tâm dưỡng tính. Bởi lẽ mấu chốt của thiền tông là làm cho tâm được bình an đưa đến giải thoát tự Khóa Hư Lục, vua Trần Thái Tông đã diễn tả bốn núi ví như bốn tướng sinh già bệnh chết mà mọi vật sinh ra đều không tránh khỏi. Sinh lão bệnh tử như bốn ngọn núi lớn, chúng luôn đè nặng, cản trở bước chân của chúng sinh“Tứ sơn liễu bích vạn thanh trùng Bích liễu đô vô, vạn vật không Hỷ đắc lư nhi tam cước tại, Mịch ký đả sấn thướng cao phong”Tranh vanh bốn núi vạn cây tùng Liễu ngộ đều không vạn vật không Ba cẳng lừa kia mừng vướng đó Cưỡi lên thẳng tới đỉnh non bồng[3]Tinh thần nhân bản được thể hiện một cách sâu sắc trong văn học thiền tông thời kỳ này. Con người được đặt lên trên hết. Trần Thái Tông đã thắp lên ngọn đuốc mới trong văn học Phật giáo và văn học đời thường. Thiền sư không bước theo con đường mòn để ràng buộc con người vào vị trí yếm thế bi quan, mà chúng ta thường gặp trong thế giới thi ca“Kiếp sau xin chớ làm người Làm cây thông đứng giữa trời mà reo”[4]Con người vẫn thường rong ruỗi theo cảnh trần để nhằm tìm kiếm và thỏa mãn mong muốn của bản giác ngộ đạt đạo phải thực hiện được ngay trong cuộc đời, bởi vì thành Phật không có gì khác là nhận chân con người thật của mình chính là Phật. Khi Trần Thái Tông bỏ ngôi vàng lên núi gặp thiền sư Viên Chứng để cầu đạo, cầu làm Phật, thiền sư trả lời rằng“Sơn bản vô Phật Duy tồn hồ tâm Tâm tịch nhi tri Thị danh chân Phật”[5]Văn học trung đại Việt Nam gắn liền với điều kiện xã hội, lịch sử đương thời. Vì vậy, hình tượng con người trong văn học thời kỳ này mang đậm dấu ấn tinh thần yêu nước, luôn sống vì quê hương. Cảm hứng văn học thời kỳ này đậm tinh thần yêu nước. Bởi thời kỳ này đất nước như ngàn cân treo sợi tóc, xã hội phong kiến đương thời dường như rơi vào khủng hoảng, giai cấp thống trị và giai cấp bị trị đạt đến đỉnh cao của sự mẫu thuẫn. Văn học như một công cụ chuyển tải thông tin về tiếng nói của mình mang thông điệp của sự yêu thương, trân trọng và đoàn kết. Nhìn chung các tác phẩm thơ luôn chứa đựng chất liệu tinh thần của con người, đây cũng chính là sự thành công của một nền văn học lừng danh thời Lý – Trần cũng như văn học trung đại Việt Kết luận“Tây thiên tổ tổ tương truyền Đông độ sư sư tiếp dẫn”Chư vị tổ sư như cánh nhạn lưng trời đến đi không lưu lại dấu. Nhưng tài năng và đức hạnh của chư vị mãi lưu lại ngàn đời cho đàn hậu học mai sau. Bởi lẽ “Hương các loài hoa không ngược bay chiều gió-Hương người đức hạnh ngược gió khắp tung bay”. Kho tàng văn học hơ Thiền Lý Trần cũng như văn học trung đại Việt Nam là gia tài quý báu của nền văn học nước nhà nói chung cũng như nền văn học Phật giáo Thiền tông nói riêng. Chính kho tàng chất liệu tâm hồn này nuối dưỡng bao người con Phật trưởng dưỡng đạo tâm trên con đường tu tập hướng đến giác giả Thích Nữ Quảng Hiếu Ni viện Diệu Nhân, Phú An, Phú Hội, Đức Trọng, Lâm Đồng***CHÚ THÍCH 1. Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh Ấn Hành, 1995, 2. Cư Trần Lạc Đạo Phú, Thơ Văn Lý Trần, Tập II, Quyển thượng, 3. HT. Thích Thanh Kiểm dịch, Khóa Hư Lục, Thành Hội Phật Giáo 1992, p. 12. 4. Trương Chính biên soạn và giới thiệu, Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Học, 1983, 5. Thiền Tông chỉ Nam tự, thơ Văn Lý Trần, tập II, quyển thượng, p. MỤC THAM KHẢO 1. Thích Thanh Từ, Thiền Sư Việt Nam, Thành Hội Phật Giáo Thành Phố Hồ Chí Minh Ấn Hành, 1995. 2. Cư Trần Lạc Đạo Phú, Thơ Văn Lý Trần, Tập II, Quyển thượng. 3. HT. Thích Thanh Kiểm dịch, Khóa Hư Lục, Thành Hội Phật Giáo 1992. 4. Trương Chính biên soạn và giới thiệu, Thơ văn Nguyễn Công Trứ, Học, 1983. 5. Thiền Tông chỉ Nam tự, thơ Văn Lý Trần, tập II, quyển thượng. Thơ Văn Lý Trần Tập 2 Quyển Thượng NXB Khoa Học Xã Hội 1988 - Nguyễn Huệ Chi, 965 Trang Discussion in 'Ngữ Văn Học' started by admin, Jun 13, 2013. Tags nguyễn huệ chi nxb khoa học xã hội 1988 phạm tú châu thơ văn lý-trần ebook pdf trần thị băng thanh viện văn học đỗ văn hỷ admin Thư Viện Sách Việt Staff Member Quản Trị Viên ​Thơ văn thời Lý-Trần, đã được sưu tầm, nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau, từ quy mô Nhà nước, đến các công trình nhỏ lẻ của các cá nhân, ở những góc nhìn khác nhau, phạm vi tìm hiểu cũng khác nhau. Kể từ khi họ Đinh Đinh Tiên Hoàng, dẹp loạn Mười hai sứ quân, lên ngôi Hoàng đế Năm Mậu Thìn-968, kinh đô đặt tại Hoa Lư Ninh Bình, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đất nước bước vào một kỷ nguyên mới, độc lập, thống nhất. Công việc bang giao với nhà Tống được thực hiện, bắt đầu vào năm Canh Ngọ 970. Đinh Tiên Hoàng được một số danh thần như Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp…ra sức giúp rập. Cơ nghiệp dường như đang được củng cố, dần ổn định, thì bỗng dưng tai họa ập đến. Vua Đinh và Thái tử Đinh Liễn bị Đỗ Thích ám sát. Đây là một vụ án cho đến nay vẫn còn để lại nhiều chỗ đáng ngờ. Nhiều câu chuyện bí ẩn còn đó, được che lấp bởi màn sương huyền ảo mà người đương thời tạo ra một cách tinh xảo, người đời nay cứ thế mà tiếp nối cái sự mù mờ lịch sử ấy. Đã đành rằng Lê Hoàn sau khi lên cầm quyền 980, đã tỏ ra là một vị vua xứng đáng, với chiến công đánh bại quân Tống xâm lược trên sông Bạch Đằng. Thế nhưng, những câu chuyện còn lẩn khuất xung quanh cái chết rõ như ban ngày, mà lại đầy bí ẩn của cha con Đinh Tiên Hoàng, đặt dấu chấm hết cho một triều đại đang lên, khiến thiên hạ không thể không nghi ngờ, rằng có bàn tay “đạo diễn” của Lê Hoàn hay không? Hoàng hậu Dương Vân Nga là một phụ nữ nhan sắc và đa tình. Đương thời cũng đã có chuyện đàm tiếu trong dân gian, rằng bà có quan hệ tư tình với Thập đạo tướng quân Lê Hoàn. Cái chết của cha con Đinh Tiên Hoàng, có liên can gì với Hoàng hậu hay không? Đỗ Thích giết vua và thái tử Đinh Liễn, chẳng qua hắn cũng chỉ là con tốt trong nước cờ đã được tính toán rất kỹ của một tập đoàn mưu lợi bí mật nào đó chăng? Sử sách xưa chê bà Vân Nga là người đàn bà kém về đức hạnh. Ngày nay, nhìn Hoàng hậu Vân Nga ở góc độ khác, rộng hơn hoặc hẹp hơn tùy ý, người ta biểu dương bà ở tinh thần vì nước mà hy sinh quyền lợi của Hoàng tộc nhà Đinh. Có hay không điều ấy, cũng không thể võ đoán mà kết luận được. Một vài nhà làm sân khấu còn vì biểu dương bà Vân Nga, mà đã vô tình hay hữu ý hạ thấp nhân phẩm của Nguyễn Bặc, Đinh Điền, hay Phạm Hạp, những trung thần đáng nể của nhà Đinh, như thế chẳng phải là sai lầm quá hay sao? Làm méo mó lịch sử như thế, chẳng phải là đã vô tình mà đắc tội với tiền nhân đấy sao? Thơ Văn Lý-Trần Tập 2 NXB Khoa Học Xã Hội 1988 Nguyễn Huệ Chi, Đỗ Văn Hỷ, Trần Thị Băng Thanh, Phạm Tú Châu 965 Trang File PDF-SCAN Link download Zalo/Viber 0944625325 buihuuhanh Văn Chương Nghệ Thuật Và Thiết Chế Văn Hóa NXB Thế Giới 2017 - Lê Nguyên Long, 349 Trang31/05/2017 Văn Học Bến Tre Tập 1 NXB Khoa Học Xã Hội 2008 - Nguyễn Phương Thảo, 477 Trang04/04/2018 Anh Hùng Và Nghệ Sĩ NXB Đại Học Quốc Gia 2003 - Vũ Khiêu, 328 Trang14/08/2017 Việt Văn Quy Tắc Quyển 1 NXB Tín Đức Thư Xã 1935 - Lương Ngọc Luông, 383 Trang18/02/2014 Tập Nghị Luận Và Phê Bình Văn Học Tập 2 NXB Giáo Dục 1975 - Đỗ Quang Lưu, 265 Trang30/03/2017 Cuộc Sống, Cách Mạng Và Văn Học Nghệ Thuật NXB Đại Học Quốc Gia 2005 - Tố Hữu, 129 Trang13/08/2017 Thi Pháp Thơ Tố Hữu NXB Giáo Dục 1995 - Trần Đình Sử, 277 Trang12/10/2020 Ca Dao Tục Ngữ Việt Nam NXB Lao Động Xã Hội 2005 - Lê Hạnh, 184 Trang02/08/2015 Thơ Văn Lý Trần Tập 1 NXB Khoa Học Xã Hội 1977 - Nguyễn Huệ Chi, 638 Trang13/06/2013 Quá Trình Hiện Đại Hóa Văn Học Việt Nam 1900-1945 NXB Văn Hóa Thông Tin 2000 - Mã Giang Lân11/06/2017 Tài Liệu Giảng Văn Bích Câu Kỳ Ngộ NXB Đại Học Văn Khoa 1975 - Bửu Cầm, 109 Trang21/06/2015 Cao Chu Thần Thi Tập Trích Dịch NXB Bộ Giáo Dục 1971 - Tạ Thúc Khải, 516 Trang19/05/2017 Văn Học Việt Nam Thế Kỷ XX Quyển 2 Tập 7 NXB Văn Học 2005 - Phan Cự Đệ, 1136 Trang02/08/2018 Tổng Tập Văn Học Việt Nam Tập 29 NXB Khoa Học Xã Hội 2000 - Nguyễn Hoành Khung, 1209 Trang12/09/2017 Việt Nam Văn Học Sử Trích Yếu Quyển 1 NXB Vĩnh Bảo 1949 - Nghiêm Toản, 126 Trang05/06/2013 Last edited Jun 15, 2020 Share This Page Forums Forums Members Members Menu

thơ văn lý trần tập 1